Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Lãng Quân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Lãng Quân. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

Thoát khỏi chuồng cọp, thôi ở trên… bàn thờ!

Quẩn quanh, tay chống cằm ngồi nhìn ra vườn cọ hoang tàn, chợt có vị khách xồng xộc đến, ông Vẽ dò dẫm đứng lên, dụi mắt. Hóa ra, bà cụ hàng xóm, người cùng tuổi với ông Vẽ, lại vừa chết lúc ban trưa. Cán bộ xóm người ta đi thu tiền “gạo nước”, mỗi hộ đóng 10 nghìn đồng, thôi thì, nghĩa tử là nghĩa tận. Ông Vẽ ở một mình, nghèo quá là nghèo, run run tìm ruột tượng giữ tiền đem ra nộp, tôi nhanh tay móc tiền ra trước, ông Vẽ cằn nhằn, lần nào anh đến cũng cứ cho tôi tiền. “Anh còn để tiền mà tàu xe tìm lối về Hà Nội chứ”. Ông lẩm bẩm, “Hôm nào đó lại đến lượt tôi về với cõi của các cụ. Sống thì lâu, chết thì nó nhanh lắm, vừa chết đấy, lại đến giỗ đầu ngay đấy”. Cái hành trình ông tìm về quê, cũng cứ như là từ âm ty tìm về dương thế ấy. Ông kể chuyện, bằng cái giọng của thầy cúng luyện âm binh. Như bố ông, ngày xưa, cùng con nhang đệ tử cắn lưỡi mình đứt từng miếng nhỏ, phun máu phì phì ra giấy bản để “bắt quyết niệm chú”… 
Sau 30 năm trở về, cùng với việc bỏ bát nhang thờ mình ra khỏi ban thờ, 
người thân, không phải ai cũng nhận ra cậu bé Vẽ 6 tuổi được người ta mặc cho bộ quần áo, 
đưa cho cái bánh rồi dắt đi năm xưa 
(trong ảnh, từ trái sang: ông Vẽ, hai vợ chồng người anh trai ruột của ông).
Phải cưới vợ để có thêm người làm cho… nhà địa chủ! 
Thấy tôi đến tuổi… có thể lấy vợ được, bà Tư Hồ bèn tính chuyện cưới vợ cho tôi để có thêm người ở. Giống như tôi bị bắt cưới vợ. Ông bà ấy bảo: Tối, mày đến gặp tao, tao nói cho mày biết chuyện này. Tối tôi vào, bà bảo: Mai, mày ăn mặc cho tử tế, tao đưa đi xem mặt một người. Tôi chả hiểu gì. Đến nơi, chả kịp nhìn mặt, chả biết mình có thích nói chuyện với “cô kia” không, ông bà hạ lệnh cưới luôn. “Vợ mày đấy, phải thương yêu nhau, bảo ban nhau làm ăn cho… đến nơi đến chốn”. Lúc ra đồng làm quần quật, tôi gọi vợ tôi là “chị Bằng”, chị Bằng gọi tôi là Vẽ, trống không. Có hôm rét, tôi xuống nhà, chị ấy trông thấy tôi, xấu hổ quay mặt đi. Chị cũng chả biết “thích” (yêu đương hay quan hệ tình dục) tôi, tôi cũng chưa biết “thích”, tôi bèn xuống lò trấu dưới bếp ngủ cho ấm. Trước lúc vào bộ đội, tôi bảo: “Chị ở nhà, tôi đi!”. Lúc tôi trở về, chị vẫn là “con dâu”, con ở cho nhà ông Tham Hồ. Nhà “chị” Bằng rất nghèo, bố đau yếu, sau này, vì nhiều chuyện rích rắc, chúng tôi hầu như không đi lại nữa dù vẫn thương xót và tôn trọng nhau, bà ấy có đi bước nữa, có con cái đàng hoàng.

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Phận tôi đòi, ăn cơm trộn… dầu hỏa!

Lời dẫn:
Nhân vật sắp trò chuyện với chúng ta là một người đàn ông. Sáu tuổi, miệng còn hơi sữa, ở trần truồng, chửa biết chỗ nào khác ngoài gốc mít đống rơm nhà mình, cậu bé tên Vẽ được “bán” làm con nuôi cho một ông thư lại hiếm muộn của giặc Pháp, bị đày đọa trần đời có một bởi một “chúa bà” (địa chủ) tàn độc, nai lưng bé thơ ra làm như con bò con trâu bất kể đêm – ngày, nóng – lạnh, khỏe – ốm. Từng phải ăn ròng rã nhiều tháng bằng thứ cơm gạo trộn dầu hỏa dầu luyn chỉ vì một lần mải chơi chắt chơi chuyền ở đầu cổng. Lớn lên, trốn theo bộ đội cụ Hồ đi đánh giặc, bị giặc bắt, trên những chuyến tàu chở tù binh lạnh ngắt lưỡi hái tử thần, từng trực tiếp tay không đấm chết nhiều tên chỉ điểm (mật thám) người Việt trên những nẻo đường “lưu đày” khiến giặc Pháp sợ xanh mắt mèo. Dăm năm đằng đẵng, bị tù đày tận khổ khắp Hỏa Lò, Hải Phòng, ra chuồng cọp Côn Đảo. Sau cải cách ruộng đất, chính bà mẹ nuôi của Vẽ phải thắt cổ tự tử trong căn nhà hoang vắng khi đang mang thai, chính bố nuôi đi ở tù vì dính “thành phần” quá nặng. Giữa lúc ấy, ba mươi năm sau kể từ ngày lưu lạc, tình cờ có người mách nước rằng anh Vẽ cũng còn có một… quê hương ở nơi nào xa lắm, anh là đứa con bị đem cho đem bán. Kỳ công tìm về làng theo cái sơ đồ nghệch ngoạc vẽ của một người tù sau cải cách, chàng Vẽ tìm về cố hương: bố đã bị giặt Pháp giết, gia đình ly tán không ai còn nhận ra gương mặt đứa con bất hạnh phiêu bạt 30 năm trời kia nữa. Trên ban thờ nghi ngút khói nhang, anh Vẽ nhận ra là “bài vị” của… chính mình. Cuối đời, họa vô đơn chí: vì đưa toàn bộ hồ sơ “thành tích” của mình cho một cán bộ xã xem xét, cơn lụt lội ngẫu hứng tràn qua, ông Chủ tịch xã bị đột tử, giấy tờ bị nước sông Hồng cuốn mất, cụ Vẽ đành sống không có chế độ gì, sống một mình trong căn nhà vách lá tồi tàn ở xã Tình Cương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ…
Ông già bệnh tật sống một mình, căn nhà lợp lá cọ, vách đất và con chó nhỏ.
Quá trình bị hành hạ “lao động khổ sai” từ khi lên bảy tuổi đầu, thời kỳ dài bị tù đày ở những địa ngục trần gian khét tiếng nhất đã làm cho ông Vẽ, ở tuổi 75 biến thành một cái ổ bệnh tật tang thương. Đi lại dò dẫm, dạ dày đau, dây thần kinh đau đến mức mỗi lần muốn đứng lên ngồi xuống, phải thọc cả tứ chi xuống mặt đất mà từ từ bẩy, ẩy, dướn, toàn thân đau như hành xác. Người ta bảo, nếu có tiền, phải thay mấy cái dây chằng ở cột sống. Cơm niêu nước lọ. Căn nhà lợp lá cọ giữa bạt ngàn xanh của sắn rù, cọ già, rơm rạnó có cái vẻ thơ mộng của sự khốn khó. Ông Vẽ thường ngước lên ban thờ, ở đó có ông bà ông vải, bố mẹ, chốn nương náu cuối cùng mà càng phiêu dạt nhục nhằn, càng về cõi già nua, ông mới lại càng thấy đau đáu, thiêng liêng.