Ký ức ngày nhỏ của tôi luôn có hình ảnh chiếc quạt
mo của mẹ. Mẹ cầm chiếc quạt, huơ qua huơ lại, xua tan cái nắng nóng, làm mát
rượi tấm lưng trần, các con bình an chìm vào giấc ngủ…
Trước
sân nhà tôi có cây cau, ngày nhỏ chị em tôi cứ đu dưới gốc tập trèo rồi ngã kềnh
xuống đất. Cây cau không cho bóng mát, trái cau trẻ nhỏ không ăn được, giá như
trẻ con cũng nhai trầu, chắc tôi đã có “thiện chí” hơn với cây cau. Tóm lại, mấy
chị em không vui vẻ gì chuyện nhà có cây cau trước cửa. Có lần chị Sáu đem về
cây si, chị xin mẹ trồng trước ngõ cho mát. Cau ốm nhách, không có bóng mát để
chơi - chị nhìn cây cau bĩu môi nói thế. Mẹ tôi không chịu, mẹ bảo, đó là cây
cau bà nội trồng. Bà nội không phải là người nghiện trầu, chỉ có những ngày lễ
Tết bà mới ăn trầu để vui với mấy người bạn già. Bà trồng cau vì bà lý lẽ rằng:
Không phải cứ thích cây gì là trồng cây đấy được, phải nhớ “Trước cau, sau chuối”.
Cây có nhiều lá đem trồng trước nhà sẽ cản trở gió lành. Trước nhà chỉ nên trồng
cây mảnh, dáng cao, lá sáng… như một hàng “danh dự” đẹp mắt.
Chị
em tôi lớn cùng cây cau trước ngõ, rồi tôi cũng dần hiểu những tiện ích và vẻ đẹp
của cây cau… Hoa cau đẹp, thánh thiện và linh thiêng. Hương cau thoang thoảng,
ngọt ngào… Hoa cau nở vào cuối xuân đầu hạ. Hoa cau đặc biệt lắm, nó nở không
có ngày tàn, nở mãi cho đến khi có quả. Những ngày lễ Tết, mẹ bày hoa cau trên
bàn thờ, hương thơm thanh cao, tôn kính. Trong những ngày lễ truyền thống của
người Việt ta không thể thiếu cau khi “miếng trầu là đầu câu chuyện”, khi “tay
mang trầu đầu đội lễ” trong ngày cưới. Đám cưới lớn thì trong quả lễ đầy ắp buồng
cau trăm quả, đám cưới nhỏ, chuẩn bị đơn sơ thì cũng chẳng thể thiếu chùm cau với
lá trầu đặt vừa đĩa… Lá cau là bạn của những người nội trợ. Mẹ rửa sạch lá, lau
khô gói bánh tro, miếng bánh dẻo thơm mùi nếp, thơm thoang thoảng mùi lá cau.
Mùa
cau trổ bông, mẹ nhặt bẹ cau mới rụng (cái nào bao bọc buồng cau thì gọi là mo
cái, còn cái nào trong không có buồng gọi là mo đực) làm quạt. Mo cái thanh mỏng,
ruột trắng phau làm quạt vừa nhẹ, vừa đẹp. Làm quạt mo cũng phải có “nghề” chứ
không phải có mo là có quạt đâu nhé. Tôi ngày nhỏ thấy bẹ cau rơi thì lượm và bắt
chước mẹ làm quạt mo nhưng rồi hí hoáy mãi vẫn không thể “chế biến” ra cái quạt
mo. Hèn chi cái quạt của thằng Bờm làm phú ông thích thú đến vậy.
Mẹ
bảo, khi mo cau còn tươi, vừa mới lìa khỏi cây cau, đem cắt bỏ tàu lá và khéo
léo gấp hai mép ở một đầu sao cho dễ cầm còn đầu kia cắt cho đẹp để lùa
gió (nhìn quạt mo có hình tương tự chiếc lá bàng nhưng dẹt và dài hơn một
chút). Sau khi đã làm xong thì lấy đồ vật nặng để ép cho quạt phẳng. Chờ ít hôm
quạt khô là có thể phe phẩy vô tư. Ký ức ngày nhỏ của tôi luôn có hình ảnh chiếc
quạt mo của mẹ. Mẹ cầm chiếc quạt, huơ qua huơ lại, xua tan cái nắng nóng, làm
mát rượi tấm lưng trần, các con bình an chìm vào giấc ngủ…
Ngày
đó nghèo, cuộc sống đơn sơ nhưng ấm áp. Đêm nào cũng vậy, sau khi chị em tôi
làm xong bài mẹ trải chiếu ra giữa sân, lấy chiếc quạt mo huơ phành phạch, chị
em nằm ngoan ngoãn nghe mẹ kể chuyện đời xửa đời xưa, nghe mẹ đọc ca dao… Khi
chúng tôi thiêm thiếp ngủ, mẹ sẽ ẵm từng đứa vào giường. Chị em tôi lớn lên
cùng tiếng ru hời của mẹ, cùng những lời hát cái cò cái vạc, cùng tiếng phành
phạch của chiếc quạt mo trên tay mẹ… Thời gian qua đi, con gái mẹ bây giờ cũng
đã làm mẹ…
Cuộc
sống hiện đại, máy điều hòa, quạt điện, quạt hơi nước đủ kiểu. Con tôi đi học,
về nhà đọc “Thằng Bờm có cái quạt mo…” rồi cười toe toét hỏi mẹ “Quạt mo là gì
hả mẹ?”. Tôi sững người, đưa mắt nhìn ra sân. Trước sân nhà tôi trồng đủ cây cảnh
nhưng không có cây cau mảnh khảnh… Những kỷ niệm tuổi thơ hối hả ùa về, tôi thấy
nhớ chiếc quạt mo mẹ thường bỏ trên đầu giường mà mỗi đêm trời nóng bức, dù chập
chờn thức ngủ vẫn đưa tay tìm được. Tôi như nghe tiếng phành phạch của chiếc quạt
trên tay mẹ…
Con
gái xa quê, nhớ chiếc quạt mo, nhớ nhà, nhớ mẹ…
NGUYỄN THỊ BÍCH NHÀN (Sơn
Giang, Sông Hinh, Phú Yên)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét