Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

Cá Anh Vũ – Cá tiến Vua

Vua chúa phong kiến ngày xưa, có lệ, hằng năm, con dân mọi miền phải Tiến (biếu, dâng) cho triều đình những gì ngon nghẻ nhất. Tịnh chưa thấy sử sách hay truyền khẩu nào nói về việc rêu suối là thứ tiến Vua. Nhưng, cá tiến Vua (cá Anh Vũ) thì đích thị là sản phẩm kết tinh từ rêu suối rồi. Đó là loài cá ăn rêu, ăn thứ rêu thanh tao nhất ở những vùng nước xiết nhất, một đời cá ăn nhiều triệu cọng rêu để có được cái tinh túy khiến ông hoàng bà chúa phải “đánh đường” đi tìm kia! Vì mải ăn rêu, mà cá Anh Vũ bị trề, bị trù, bị loe cái miệng gặm vào vách đá của mình ra, để rồi dân gian vinh danh nó là cá Mõm Lợn (mõm trù ra như Trư Bát Giới). Cặp môi, cái mõm được tinh luyện, được ngấm tẩm, được nuôi dưỡng bởi tinh anh của rêu suối đó, chính là thứ quan trọng nhất, ngon ngọt, bổ béo và “huyền thoại” nhất để Vua Chúa “quyết tử” săn lùng cá Anh Vũ. Lẽ ra phải gọi đó là món “Môi Cá Tiến Vua”, một loài cá ăn rêu, lẽ ra phải gọi đó là “Tinh Túy Của Rêu Suối Tiến Vua”. Hương rừng sắc núi, cái kỳ diệu nhất ở thiên nhiên, đôi khi nằm ở chính trong những cọng rêu mà người đời coi rẻ đó. Cá ăn rêu, cá Mõm Lợn, cá Anh Vũ, cá tiến Vua.

Cá Anh Vũ – Cá tiến Vua

Thoát khỏi chuồng cọp, thôi ở trên… bàn thờ!

Quẩn quanh, tay chống cằm ngồi nhìn ra vườn cọ hoang tàn, chợt có vị khách xồng xộc đến, ông Vẽ dò dẫm đứng lên, dụi mắt. Hóa ra, bà cụ hàng xóm, người cùng tuổi với ông Vẽ, lại vừa chết lúc ban trưa. Cán bộ xóm người ta đi thu tiền “gạo nước”, mỗi hộ đóng 10 nghìn đồng, thôi thì, nghĩa tử là nghĩa tận. Ông Vẽ ở một mình, nghèo quá là nghèo, run run tìm ruột tượng giữ tiền đem ra nộp, tôi nhanh tay móc tiền ra trước, ông Vẽ cằn nhằn, lần nào anh đến cũng cứ cho tôi tiền. “Anh còn để tiền mà tàu xe tìm lối về Hà Nội chứ”. Ông lẩm bẩm, “Hôm nào đó lại đến lượt tôi về với cõi của các cụ. Sống thì lâu, chết thì nó nhanh lắm, vừa chết đấy, lại đến giỗ đầu ngay đấy”. Cái hành trình ông tìm về quê, cũng cứ như là từ âm ty tìm về dương thế ấy. Ông kể chuyện, bằng cái giọng của thầy cúng luyện âm binh. Như bố ông, ngày xưa, cùng con nhang đệ tử cắn lưỡi mình đứt từng miếng nhỏ, phun máu phì phì ra giấy bản để “bắt quyết niệm chú”… 
Sau 30 năm trở về, cùng với việc bỏ bát nhang thờ mình ra khỏi ban thờ, 
người thân, không phải ai cũng nhận ra cậu bé Vẽ 6 tuổi được người ta mặc cho bộ quần áo, 
đưa cho cái bánh rồi dắt đi năm xưa 
(trong ảnh, từ trái sang: ông Vẽ, hai vợ chồng người anh trai ruột của ông).
Phải cưới vợ để có thêm người làm cho… nhà địa chủ! 
Thấy tôi đến tuổi… có thể lấy vợ được, bà Tư Hồ bèn tính chuyện cưới vợ cho tôi để có thêm người ở. Giống như tôi bị bắt cưới vợ. Ông bà ấy bảo: Tối, mày đến gặp tao, tao nói cho mày biết chuyện này. Tối tôi vào, bà bảo: Mai, mày ăn mặc cho tử tế, tao đưa đi xem mặt một người. Tôi chả hiểu gì. Đến nơi, chả kịp nhìn mặt, chả biết mình có thích nói chuyện với “cô kia” không, ông bà hạ lệnh cưới luôn. “Vợ mày đấy, phải thương yêu nhau, bảo ban nhau làm ăn cho… đến nơi đến chốn”. Lúc ra đồng làm quần quật, tôi gọi vợ tôi là “chị Bằng”, chị Bằng gọi tôi là Vẽ, trống không. Có hôm rét, tôi xuống nhà, chị ấy trông thấy tôi, xấu hổ quay mặt đi. Chị cũng chả biết “thích” (yêu đương hay quan hệ tình dục) tôi, tôi cũng chưa biết “thích”, tôi bèn xuống lò trấu dưới bếp ngủ cho ấm. Trước lúc vào bộ đội, tôi bảo: “Chị ở nhà, tôi đi!”. Lúc tôi trở về, chị vẫn là “con dâu”, con ở cho nhà ông Tham Hồ. Nhà “chị” Bằng rất nghèo, bố đau yếu, sau này, vì nhiều chuyện rích rắc, chúng tôi hầu như không đi lại nữa dù vẫn thương xót và tôn trọng nhau, bà ấy có đi bước nữa, có con cái đàng hoàng.

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Phận tôi đòi, ăn cơm trộn… dầu hỏa!

Lời dẫn:
Nhân vật sắp trò chuyện với chúng ta là một người đàn ông. Sáu tuổi, miệng còn hơi sữa, ở trần truồng, chửa biết chỗ nào khác ngoài gốc mít đống rơm nhà mình, cậu bé tên Vẽ được “bán” làm con nuôi cho một ông thư lại hiếm muộn của giặc Pháp, bị đày đọa trần đời có một bởi một “chúa bà” (địa chủ) tàn độc, nai lưng bé thơ ra làm như con bò con trâu bất kể đêm – ngày, nóng – lạnh, khỏe – ốm. Từng phải ăn ròng rã nhiều tháng bằng thứ cơm gạo trộn dầu hỏa dầu luyn chỉ vì một lần mải chơi chắt chơi chuyền ở đầu cổng. Lớn lên, trốn theo bộ đội cụ Hồ đi đánh giặc, bị giặc bắt, trên những chuyến tàu chở tù binh lạnh ngắt lưỡi hái tử thần, từng trực tiếp tay không đấm chết nhiều tên chỉ điểm (mật thám) người Việt trên những nẻo đường “lưu đày” khiến giặc Pháp sợ xanh mắt mèo. Dăm năm đằng đẵng, bị tù đày tận khổ khắp Hỏa Lò, Hải Phòng, ra chuồng cọp Côn Đảo. Sau cải cách ruộng đất, chính bà mẹ nuôi của Vẽ phải thắt cổ tự tử trong căn nhà hoang vắng khi đang mang thai, chính bố nuôi đi ở tù vì dính “thành phần” quá nặng. Giữa lúc ấy, ba mươi năm sau kể từ ngày lưu lạc, tình cờ có người mách nước rằng anh Vẽ cũng còn có một… quê hương ở nơi nào xa lắm, anh là đứa con bị đem cho đem bán. Kỳ công tìm về làng theo cái sơ đồ nghệch ngoạc vẽ của một người tù sau cải cách, chàng Vẽ tìm về cố hương: bố đã bị giặt Pháp giết, gia đình ly tán không ai còn nhận ra gương mặt đứa con bất hạnh phiêu bạt 30 năm trời kia nữa. Trên ban thờ nghi ngút khói nhang, anh Vẽ nhận ra là “bài vị” của… chính mình. Cuối đời, họa vô đơn chí: vì đưa toàn bộ hồ sơ “thành tích” của mình cho một cán bộ xã xem xét, cơn lụt lội ngẫu hứng tràn qua, ông Chủ tịch xã bị đột tử, giấy tờ bị nước sông Hồng cuốn mất, cụ Vẽ đành sống không có chế độ gì, sống một mình trong căn nhà vách lá tồi tàn ở xã Tình Cương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ…
Ông già bệnh tật sống một mình, căn nhà lợp lá cọ, vách đất và con chó nhỏ.
Quá trình bị hành hạ “lao động khổ sai” từ khi lên bảy tuổi đầu, thời kỳ dài bị tù đày ở những địa ngục trần gian khét tiếng nhất đã làm cho ông Vẽ, ở tuổi 75 biến thành một cái ổ bệnh tật tang thương. Đi lại dò dẫm, dạ dày đau, dây thần kinh đau đến mức mỗi lần muốn đứng lên ngồi xuống, phải thọc cả tứ chi xuống mặt đất mà từ từ bẩy, ẩy, dướn, toàn thân đau như hành xác. Người ta bảo, nếu có tiền, phải thay mấy cái dây chằng ở cột sống. Cơm niêu nước lọ. Căn nhà lợp lá cọ giữa bạt ngàn xanh của sắn rù, cọ già, rơm rạnó có cái vẻ thơ mộng của sự khốn khó. Ông Vẽ thường ngước lên ban thờ, ở đó có ông bà ông vải, bố mẹ, chốn nương náu cuối cùng mà càng phiêu dạt nhục nhằn, càng về cõi già nua, ông mới lại càng thấy đau đáu, thiêng liêng. 

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Thử tìm hiểu ý nghĩa chữ "Tâm"

Có một tử tù kia suốt đời làm việc tội lỗi, giết người, trộm cướp, lòng dạ rất xấu xa. Trước khi bị xử tử, anh ta hối hận. Và, để chuộc lại tội lỗi của mình, anh xin hiến trái tim của mình cho người cần thay tim. Nhưng sau đó không bệnh nhân nào dám nhận trái tim của anh, vì sợ sau này cũng độc ác như anh!
Văn hoá Đông Tây tuy có nhiều khác biệt, nhưng đều lấy “tâm” diễn tả tình cảm của con người. Chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của chữ “tâm”.


1. Nghĩa chữ Tâm:
Tâm có hai chữ Hán là [1] ở đây là chữ , chữ tâm là chữ tượng hình, viết kiểu tiểu triện có hình trái tim, còn viết kiểu khải thư thì ở trên có ba dấu tượng trưng ba cái cuống, ở dưới là túi chứa máu. Chữ này diễn biến qua các cách viết như sau:



Chữ Tâm () có rất nhiều nghĩa:
1.1. Nghĩa thông thường: (dt.) (1) Tim (heart): tâm tạng (quả tim), tâm thất (ngăn bên dưới trong trái tim). (2) Lòng, dạ, ruột, phần bên trong (inner): tâm phúc (bụng dạ); không tâm thái (rau rỗng ruột, tức rau muống). (3) Lòng, tình cảm con người (inner emotion): tâm cảm (inner feelings), tâm phục (thật lòng kính trọng vâng theo); tâm ý (lòng dạ và đầu óc); đồng tâm nhất trí (cùng một lòng, một ý). (4) Giữa (center), điểm ở giữa, quy tụ các điểm khác, thường nói về phần giữa đều gọi là tâm: viên tâm (điểm giữa vòng tròn), trọng tâm, trung tâm. (5) Tên một ngôi sao trong Nhị thập bát tú, sao Tâm, tức sao Hỏa. (6) Tên một bộ chữ Hán, bộ Tâm, cũng viết là, khi đứng bên trái.

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

Xướng họa: Trường xưa và nỗi nhớ



                  Bài xướng:
Trường xưa và nỗi nhớ

Màu áo ai làm mây trong nắng hạ
Góc sân trường chùm phượng vĩ rêu phong
Tiếng ve xưa xa vắng ở trong lòng
Ngày trở về trường xưa là nỗi nhớ…
Nhớ về em tìm em bên ghế đá
Lá thu vàng từng chiếc lá bàng rơi
Tiếng yêu xưa sao nói chẳng nên lời
Để giờ đây lạc hồn trong nỗi nhớ…

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Sông Thao

Cầu Phong Châu bắc qua sông Thao - Ảnh: Nhật Minh.

                                             Ngàn năm lầm lũi nuôi bờ
                                     Sông Thao bươn chảy dòng thơ nuôi người
                                             Bình an thả lỏng thuyền đời
                                     Phù sa đỏ ánh nắng trời chói chang
                                             Chủ Chè một chuyến sang ngang
                                     Nặng tình sông nước mênh mang tình người.

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

Tình Cương vinh dự đón Bằng Công nhận Trường Trung học Cơ sở đạt chuẩn quốc gia

Những ngày đầu năm học mới 2013 – 2014, thầy và trò Trường THCS Tình Cương (huyện Cẩm Khê) tràn ngập niềm vui vinh dự đón Bằng Công nhận Trường THCS đạt chuẩn quốc gia.


Phát huy truyền thống từ những ngày đầu xây dựng, Trường THCS Tình Cương duy trì nền nếp, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm, liên tục đạt trường tiên tiến cấp huyện, nhiều thầy, cô giáo đạt danh hiệu lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua, giáo viên giỏi các cấp.
Ngày hội khai trường năm nay, cùng với học sinh cả nước hân hoan bước vào năm học mới, mặc dù thời tiết không thuận lợi, mưa lớn kéo dài, thầy và trò Trường THCS Tình Cương đã ghi thêm vào trang truyền thống đầy tự hào và vinh dự đón Bằng Công nhận Trường Trung học Cơ sở đạt chuẩn quốc gia.

Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013

Chợ quê

PTOCuộc sống làng quê tôi ngày xưa sôi động, náo nhiệt vui hơn lên nhờ những buổi hội làng. Cả những phiên chợ quê đáng nhớ cũng giúp chúng tôi yêu quê hương mình hơn.


Không những chỉ để mua bán những thứ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày, phiên chợ còn là lịch thời gian của vùng quê tôi khi chưa nhiều gia đình có tấm lịch treo trong nhà. Người làng tôi ai cũng nhớ những ngày phiên chợ quanh vùng, nhất là các bà, các chị, những người nội trợ trong gia đình. Riêng làng tôi một tháng có 9 phiên, phiên ngày lẻ. Ngoài việc nhớ ngày họp chợ người làng còn chuẩn bị hàng hóa, sản phẩm, hoặc dự định sẵn những đồ sẽ mua ở mỗi phiên chợ. Chợ phiên quê tôi họp trên một khu bãi rộng chừng 3.000m2 cạnh ngay tỉnh lộ qua làng. Chợ họp từ mờ sáng tới già trưa thì tan. Người mua kẻ bán cứ nhớ nơi quy định bày hàng mình bán, hay mua thứ mình cần. Những lều lán làm thành từng dãy cho từng loại hàng ít khi có phên vách, ngăn cách. Hàng nọ cách hàng kia có một lối đủ cho chủ hàng chen chân vào. Người đến chợ có thể nhìn từ đầu đến cuối dãy. Dãy hàng xén lặt vặt như: Bút vở, cái lưỡi câu, cuộn dây cước, cái gương, lược... Nhưng có lẽ thứ hàng phổ biến nhất vẫn là các sản phẩm nông nghiệp từ mớ rau, con cá, gà, lợn đến lúa ngô, khoai, sắn... thứ gì cũng có. Nhưng phong phú nhất vẫn là khu bán rau, quả… chiếm một góc lớn của chợ với rau tươi các loại: Cải bắp, cải bẹ, su hào, mướp, su su, đậu đũa, đậu côve… đầy sọt, đầy rổ, tạo nên một màu xanh non tươi ngọt ngào. Bước đến hàng bày bán quần áo, với nhiều màu sắc, chủng loại, kích cỡ của nhiều lứa tuổi. Các bà, các chị chào hỏi, mua, bán tíu tít với những tiếng cười, nói xởi lởi mời chào.

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

Tình quê


                                                  Thẹn thùng 
                                                                dấu kín trong tim
                                                  Câu thơ lục bát
                                                                       đi tìm bên sông
                                                  Mùi thơm
                                                             rơm rạ nồng nồng
                                                  Hương cau ngan ngát còn hong
                                                                                        gió chiều.

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

Đồng Láng Chương

Đồng Láng Chương là cánh đồng lúa một vụ. Hết vụ lúa chiêm, nước từ các đồi núi đổ về, cánh đồng hoàn toàn ngập sâu trong nước. Cánh đồng thuộc sở hữu của các xã: Chương Xá, Tình Cương, Phú Lạc, Văn Khúc, nhưng diện tích chủ yếu thuộc về xã Chương Xá, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Trên cánh đồng này, có một địa danh nổi tiếng là Gò Thờ, tương truyền nơi đây thờ Bà Chúa Đâng-Quââng, rất thiêng. Gò có một cụm cây lộc vừng già, mà quê tôi gọi là cây vình, xếp theo hình mâm xôi trông rất đẹp mắt. Phía sau đền có 2 cây cọ xẻ cao vút tầm mắt. Mới đây, một cây đã bị đổ, nghe nói người Tàu giấu "của" đã sang đây dùng phép thuật lấy "của" dưới gốc cây cọ này. Và, dường như trong bất kỳ tâm thức người con Chương Xá xa quê nào cũng không thể quên những ký ức của riêng mình về cánh đồng này.
Các đại biểu về dự Lễ công nhận Cây Di sản Việt Nam chụp ảnh lưu niệm 
với các cháu thiếu nhi xã Chương Xá bên văn bia và quần thể lộc vừng 
tại Gò thờ, đồng Láng Chương, ngày 18-02-2013.

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

Ký ức tuổi thơ


Bây giờ trẻ con không còn hát đồng dao nữa
Cũng quên luôn tiếng sáo thả lưng đồi
Tôi trở về con chuồn kim bậu cửa
Cánh chạm vào ký ức tuổi thơ tôi
Bây giờ câu lục bát cũng mồ côi
Chị tôi ru con bằng dàn Hi-fi cực ấm